Chốt phương án làm cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu

Ông Lê Văn Thành – Phó Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến về việc phê duyệt chủ trương đầu tư giai đoạn 1 dự án xây dựng đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu theo phương thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng BOT. Trong đó, yêu cầu Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) căn cứ quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2050 sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, rà soát nội dung dự án, trình Thủ tướng Chính phủ.

Dự án cao tốc Biên Hòa - Đồng Nai
Phối cảnh dự án cao tốc Biên Hòa – Đồng Nai

Giảm 2 làn xe dự án cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu

Theo thông tin của Bộ GTVT: “Theo quy hoạch, quy mô của tuyến cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu từ 6 làn xe đến 8 làn xe được xác định theo từng đoạn tuyến. Tuy nhiên, căn cứ nhu cầu vận tải, khả năng cân đối nguồn lực, để bảo đảm hiệu quả đầu tư, Bộ GTVT kiến nghị phân kỳ đầu tư giai đoạn 1 giảm 2 làn xe mỗi đoạn”.

Cụ thể như sau:

  • Đoạn từ điểm đầu dự án (giao với tuyến tránh Quốc lộ 1 qua TP Biên Hòa) đến nút giao Long Thành (giao với đường cao tốc TP HCM – Long Thành – Dầu Giây): Quy mô 4 làn xe, bề rộng nền đường từ 24,75 – 27 m.
  • Đoạn từ nút giao Long Thành đến nút giao Tân Hiệp (giao với đường cao tốc Bến Lức – Long Thành): Quy mô 6 làn xe, bề rộng nền đường từ 32,25 – 34,5 m.
  • Đoạn từ nút giao Tân Hiệp đến điểm cuối dự án (giao với Quốc lộ 56): Quy mô 4 làn xe cao tốc, bề rộng nền đường từ 24,75 – 27 m.

Ông Trần Thượng Chí – Giám đốc Sở GTVT tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khẳng định tuy quy mô giai đoạn 1 giảm nhưng cao tốc trên vẫn bảo đảm theo quy hoạch ban đầu khi thực hiện giai đoạn 2.

“Hồ sơ Bộ GTVT trình Thủ tướng Chính phủ nêu rõ việc giải phóng mặt bằng sẽ vẫn làm theo đúng quy hoạch. Sau khi hoàn thành giai đoạn 1, giai đoạn 2 sẽ tiếp tục hoàn thiện theo 8 làn xe như quy hoạch đã được phê duyệt” – Ông Trần Thượng Chí nói.

Kinh phí xây dựng ước tính gần 20 tỷ đồng

Bộ GTVT phân tích dự án đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu nằm trên hành lang vận tải TP HCM – Vũng Tàu có nhu cầu vận tải cao. Kết quả dự báo lưu lượng và tính toán sơ bộ phương án tài chính cho thấy:

  • Dự án có tính khả thi về tài chính
  • Có khả năng thu hút và hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân tham gia thực hiện.

“Do đó, việc nghiên cứu đầu tư dự án theo phương thức PPP, loại hợp đồng BOT sẽ giảm áp lực lên ngân sách nhà nước trong kế hoạch trung hạn 2021-2025, để dành ưu tiên bố trí cho các dự án quan trọng quốc gia, cũng như cần tập trung cho các ngành, lĩnh vực và nhiệm vụ quan trọng cấp bách khác của đất nước” – Bộ GTVT nêu rõ.

Theo tính toán của Bộ GTVT. Vốn đầu tư sơ bộ của dự án cao tốc Biên Hòa – Đồng Nai khoảng 19.616 tỉ đồng. Trong đó:

  • Chi phí lớn nhất là xây dựng – thiết bị với 8.649 tỉ đồng
  • Giải phóng mặt bằng 6.629 tỉ đồng
  • Còn lại là chi phí lãi vay, tư vấn, dự phòng.

Phần vốn nhà nước dự kiến tham gia khoảng 6.720 tỉ đồng bao gồm giải phóng mặt bằng. Nhà đầu tư chịu trách nhiệm thu xếp khoảng 12.987 tỉ đồng.

Thời gian thu phí hoàn vốn của nhà đầu tư dự kiến 17 năm. Hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho cơ quan có thẩm quyền quản lý.

Thi công vào năm 2024

Bộ GTVT cũng dự kiến thời gian thực hiện, phương án tổ chức quản lý, kinh doanh dự án. Trong đó:

  • Giai đoạn 2021-2022 sẽ là thời gian chuẩn bị dự án,
  • Từ năm 2022-2023 sẽ lựa chọn nhà đầu tư
  • Giai đoạn 2022-2024 tập trung giải phóng mặt bằng, tái định cư.
  • Dự kiến giai đoạn 2024-2026 sẽ thi công xây dựng công trình.

Theo đánh giá của lãnh đạo tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu cùng các cơ cơ quan chuyên môn:

Khi giai đoạn 1 của dự án hoàn thiện sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải, giảm tải và bảo đảm an toàn giao thông trên Quốc lộ 51 vốn đang quá tải trầm trọng. Góp phần hoàn thành và đưa vào khai thác đồng bộ các tuyến đường bộ cao tốc có năng lực lớn, an toàn giao thông và tốc độ cao trên hành lang vận tải TP HCM – Vũng Tàu.

Qua đó, phát huy tối đa tiềm năng của cảng biển Cái Mép – Thị Vải, Cảng Hàng không quốc tế Long Thành. Thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung.

.
.
.